Que thử xét nghiệm định tính kháng thể kháng H.pylori Fastep
25,000₫
Số lượng:
Que thử xét nghiệm định tình kháng thể kháng H. Pylori (màu toàn phần huyết thanh, huyết tương) là dụng cụ xét nghiệm sắc ký miễn dịch định tính giả định phát hiện sự có mặt của kháng thể IgG kháng Helicobacter pylori trong các mẫu phẩm màu toan phân, huyết thanh, hoặc huyết tương. Kít thứ này được thiết kế để sử dụng như một công cụ hỗ trợ chẩn đoàn nhiệm H. pylori
Đặc điểm nổi bật của Que thử xét nghiệm định tính kháng thể kháng H.pylori Fastep
GIỚI THIỆU CHUNG
Viêm da dày và loét dạ dày là một trong những bệnh phổ biến nhất ở người. Kể từ khi phát hiện ra H. pylori (Warren & Marshall, 1983), nhiều báo cáo cho thấy vi khuẩn này là một trong những nguyên nhân chỉnh gây ra bệnh loét (Anderson & Nielsen, 1983, Hunt & Mohamed, 1995, Lambert et al, 1995). Mặc dù vai trò chính xác của H. pylori vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng việc loại bỏ H. pylori có liên quan đến việc loại bỏ các bệnh loét. Phản ứng huyết thanh của con người đối với nhiễm H. pylori đã được chứng minh (Varia & Holton, 1989, Evans et al, 1989) Việc phát hiện các kháng thể IgG đặc hiệu với H. pylori đã được chứng minh là một phương pháp chính xác để phát hiện nhiễm H. pylori ở những bệnh nhân có triệu chứng. H. pylori có thể cư trú ở một số người không có triệu chứng. Xét nghiệm huyết thanh học có thẻ được sử dụng như một biện pháp bổ sung cho nội soi hoặc như một biện pháp thay thể ở những bệnh nhân có triệu chứng
MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
Que thử xét nghiệm định tình kháng thể kháng H. Pylori (màu toàn phần huyết thanh, huyết tương) là dụng cụ xét nghiệm sắc ký miễn dịch định tính giả định phát hiện sự có mặt của kháng thể IgG kháng Helicobacter pylori trong các mẫu phẩm màu toan phân, huyết thanh, hoặc huyết tương. Kít thứ này được thiết kế để sử dụng như một công cụ hỗ trợ chẩn đoàn nhiệm H. pylori
LẤY MẪU VÀ BẢO QUẢN MẪU
Que thử xét nghiệm định tỉnh kháng thể kháng H. Pylori (máu toàn phần huyết thanh huyết tương) là dụng cụ chỉ sử dụng cho con người với mẫu phẩm là máu toàn phần, huyết thanh, hoặc huyết tương
Chỉ nên sử dụng các mẫu xét nghiệm trong suốt, không bị tán huyết để sử dụng cho xét nghiệm này. Huyết thanh hoặc huyết tương nên được tách ra cảng sớm càng tốt để tránh tán huyết
Xét nghiệm phải được tiến hành ngay sau khi lấy mẫu. Không được để mẫu phẩm ở nhiệt độ phòng trong thời gian dài. Mẫu huyết thanh hoặc huyết tương có thể bảo quản ở nhiệt độ 2-8°C trong vòng 3 ngày. Muốn bảo quản lâu hơn, mẫu phẩm phải được giữ ở nhiệt độ thấp hơn -20°C. Màu toàn phần được lấy bằng cách lấy máu tĩnh mạch nên được bảo quản tại 2-8°C nếu xét nghiệm được thực hiện trong vòng 2 ngày kể từ khi lấy mẫu. Không cấp đông mẫu máu toàn phần. Màu toàn phần được lấy ở
đầu ngón tay nên được xét nghiệm ngay
Nên sử dụng các ông đưng mẫu chứa chất chống đông màu như EDTA, citrate hoặc heparin để bảo quản máu toàn phần.
Để các mẫu phẩm ở nhiệt độ phòng trước khi làm xét nghiệm Các mẫu đông lạnh phải được để cho tan ra hoàn toàn và được lắc đều trước khi làm xét nghiệm. Không cấp đông lại và rã đông các mẫu phẩm nhiều lần
Nều mẫu phẩm cần phải đi chuyển, chúng phải được đóng gói và vận chuyển phù hợp với các quy định an toàn về vận chuyển các chát có nguy cơ lây nhiễm cao
Các mẫu phẩm vàng da, nhiễm mỡ, tân huyết, xử lý nhiệt và nhiễm bẩn có thể gây ra kết quả sai
QUY TRÌNH XÉT NGHIỆM
Để kit thử, mẫu phẩm, dung dịch đệm và hoặc dung dịch kiểm soát ở nhiệt độ phòng (15-30°C) trước khi xét nghiệm.
1. Lấy kit thử ra khỏi túi kin đưng sản phẩm, đặt ở bề mặt sạch sẽ và bằng phẳng. Đánh dấu que thử bằng tên bệnh nhân hoặc mã kiểm soát. Để đạt kết quả tốt nhất, toàn bộ quá trình xét nghiệm phải được hoàn thành trong vòng 1 giờ.
2. Truyền 3 giọt huyết thanh hoặc huyết tương (khoảng 75 µL) vào giếng mẫu (5) của thiết bị với pipet dùng một lần được cung cấp và bắt đầu tỉnh thời gian.
HOẶC
Lấy 2 giọt máu toàn phần hoặc mẫu máu toàn phần từ đầu ngón tay (khoảng 50 µL) vào giếng mẫu (5) của thiết bị, sau đó nhỏ 1 giọt dung dịch đệm và bắt đầu tỉnh thời gian.
HOẶC
Nhỏ 2 giọt mẫu máu toàn phần bằng que nhỏ được lấy từ đầu ngón tay vào giữa miếng mẫu của que thù, sau đó nhỏ thêm 1 giọt dung dịch đệm và bắt đầu tỉnh thời gian.
Tránh nhỏ những giọt có chứa bọt khí vào giếng mẫu (S), và không thêm bất kỳ dung dịch nào vào vùng kết quả.
Khi xét nghiệm bắt đầu diễn ra, màu sắc sẽ di chuyển qua máng ở trung tâm của thiết bị
3. Chờ đến khi vạch máu xuất hiện. Đọc kết quả trong vòng 10 phút. Không sử dụng kết quả quá 20 phút
DIỄN GIẢI KẾT QUẢ
DƯƠNG TỈNH: Xuất hiện hai vạch màu. Một vạch máu ở vùng chứng (C) và một vạch máu ở vùng kết quả (T)
ÂM TỈNH: Chỉ có một vạch màu xuất hiện, tại vùng chứng (C). Không có vạch màu nào xuất hiện ở vùng kết quả (T)
KẾT QUẢ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ: Không thấy xuất hiện vạch màu. Nên loại bỏ những kết quả không xuất hiện vạch này. Vui lòng xem quy trình làm lại xét nghiệm mới và thực hiện lại với kít thứ khác. Nếu hiện tượng không có kết quả vẫn lập lại, ngưng sử dụng kit thử và liên hệ với nhà phân phối để được giải đáp
Lưu ý:
1. Cường độ màu sắc trong vùng kết quả (T) có thể biển đổi phụ thuộc vào nồng độ chất phân tích có trong mẫu phẩm. Do đó, đủ màu xuất hiện trong vùng kết quả đậm hay nhạt đều được xem là dương tỉnh. Lưu ý rằng đây chỉ là sự xét nghiệm định tỉnh và không thể xác định được nồng độ của chất phân tích trong mẫu phẩm
2. Khối lượng mẫu phẩm không đủ, quy trình thực hiện không đùng hoặc kit thử đã hết hạn có thể là các lý do cho việc không xuất hiện vạch chứng
BẢO QUẢN VÀ ĐỘ ỔN ĐỊNH
Bảo quản kit thử ở nhiệt độ 2-30°C cho đến ngày hết hạn sử dụng in trên bao bì.
Kít thử phải được bảo quản trong túi đồng kin cho đến khi lấy ra sử dụng
Không cấp đông.
Tránh làm bắn các thành phần của kít thủ. Không sử dụng sản phẩm nếu bị bẩn hoặc kết tủa. Ô nhiễm sinh học từ các thiết bị chế tạo, dụng cụ đựng mẫu phẩm hay thuốc thứ có thể dẫn đến kết quả xét nghiệm sai lệch
VN
US
Thiết kế website bởi
Nhanh.vn